CÂY THUỐC BẠC HÀ
Mô tả cây thuốc:
Cây bạc hà Mentha arvensis L. còn có tên là Bạc hà nam, là một cây cỏ, sống lâu năm, cao từ 10-60-70cm, có thể cao đến 1m. Thân hình vuông mọc đứng hay hơi bò, có khi phân nhánh, trên thân có nhiều lông. Lá mọc đối, cuống dài, phiến lá hình trứng hay thon dài, mép có răng cưa, mặt trên và mặt dưới đều có lông. Hoa mọc vòng ở kẻ lá, cánh hoa hình môi, màu tím hay hồng nhạt có khi màu trắng. Ít khi thấy có hạt hoặc quả.

Bộ phận dùng: toàn cây trên mặt đất
Thành phần hóa học: tinh dầu
Tác dụng dược lý:
– Kháng khuẩn, giảm đau, ức chế hô hấp, tuần hoàn (đối với trẻ nhỏ), hưng phấn.
– Hạ nhiệt độ cơ thể, tăng tiết mồ hôi.
– Giảm vận động và chống co thắt của ruột non.
– Bảo vệ niêm mạc dạ dày khỏi tác hại của bia rượu, indomethacin nên khuyến khích sử dụng để ngăn ngừa bệnh viêm loét dạ dày
Tính vị quy kinh: Cay, mát Phế can
Chủ trị: Đau đầu, sốt cao co giật, đau răng, giảm căng thẳng, khó tiêu (xoa dịu cơ bụng, tăng tốc độ lưu thông của dịch mật giúp tiêu hóa nhanh hơn)
Liều dùng: 6-20g.
Đơn thuốc có Bạc hà:
- Trà ( chè) chữa cảm mạo, nhức đầu:
Lá Bạc hà 6g, Kinh giới 6g, Hành hoa 6g, Phòng phong 5g, Bạch chỉ 4g. Nước sôi đổ vào chờ 20 phút, uống lúc đang nóng.
- Răng đau do phong hỏa:
Lá Bạc hà, Cúc hoa, Tổ ong mỗi thứ 10g, Bạch chỉ 5g, Hoa tiêu 2g, sắc uống.
- Cảm mạo phong nhiệt:
Bach hà, Cát căn, Địa liền, Lá tre, Cúc tần, Cam thảo đất, Lá dâu, Bạch chỉ, Cối xay mỗi thứ 10g, Ké đầu ngựa 12g. Sắc ngày 1 thang. Uống 3 thang.
Kiêng kỵ:
– Mới bị ngứa không dùng, mồ hôi ra do hư không dùng. Uống nhiều hoặc uống lâu ngày sẽ bị lạnh người, âm hư gây ra mồ hôi. Uống lâu ngày làm tổn thương phế, thương tâm, tổn dương.
– Người gầy yếu, suy nhược toàn thân, táo bón, huyết áp cao, trẻ em dưới 1 tuổi không nên dùng.GERD không dùng(cơ thực quản dưới bị kích thích, làm GERD phát triển trầm trọng hơn.
Tài liệu tham khảo:
- Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam- Giáo sư-Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi Nhà xuất bản Y học năm 1999.
- Quy trình kỹ thuật Y Học Cổ Truyền- Quyết định 26/2008/QĐ-BYT ngày 22/07/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
- Quyết định 4664/QĐ-BYT ngày 07/11/2014.










